Thứ Bảy, Tháng Bảy 2

Đóng BHXH đủ năm nhưng chưa đủ tuổi nghỉ hưu thì sao?

254

Theo Điều 169 Luật Lao động 2019, để được hưởng lương hưu; người lao động tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc phải có đủ số năm đóng cũng như đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định. 

Đủ năm đóng BHXH nhưng chưa đủ tuổi nghỉ hưu thì sao?

1. Tuổi hưu

– Theo khoản 2 Điều 169, kể từ năm 2021, từ năm 2021 độ tuổi nghỉ hưu của người lao động sẽ được tăng theo lộ trình. Trong đó, tuổi nghỉ hưu bình thường là đủ 60 tuổi 03 tháng đối với nam và đủ 55 tuổi 04 tháng đối với nữ. Sau đó, cứ mỗi năm sẽ tăng thêm 03 tháng đối với nam và 04 tháng đối với nữ, cho đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam và đủ 60 tuổi đối với lao động nữ.

Bên cạnh đó, Điều 169 cũng quy định: 

– Khoản 3 Điều 169 có quy định, với người bị suy giảm khả năng lao động; làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại; làm việc ở những nơi điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn có thể được nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn nhưng sẽ không quá 5 tuổi so với quy định trên, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

– Khoản 4 Điều 169 quy định Người lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao và một số trường hợp đặc biệt có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 5 tuổi so với quy định trên tại thời điểm nghỉ hưu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Số năm đóng BHXH

Điều 54, Điều 55 Luật BHXH 2014 được sửa bởi điểm a khoản 1 Điều 219 BLLĐ năm 2019, hầu hết người lao động phải tham gia BHXH từ 20 năm trở lên và đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định thì mới đủ điều kiện hưởng lương hưu.

Quy định này áp dụng cho cả những người lao động làm việc trong điều kiện bình thường; làm việc trong môi trường nặng nhọc, độc hại,… và người bị suy giảm khả năng lao động.

Riêng trường hợp lao động nữ là cán bộ, công chức cấp xã hoặc là người hoạt động không chuyên trách cấp xã tham gia BHXH khi đủ tuổi nghỉ hưu chỉ cần có từ đủ 15 năm – dưới 20 năm đóng BHXH thì được hưởng lương hưu.

Nếu người lao động đủ năm đóng BHXH mà chưa đến tuổi nghỉ hưu thì sao? 

Với trường hợp người lao động đã đủ số năm đóng BHXH; nhưng chưa đến độ tuổi nghỉ hưu theo quy định thì có thể lựa chọn một trong hai phương án:

1. Bảo lưu thời gian đóng BHXH

Theo Luật Bảo hiểm Xã hội 2014, có 2 trường hợp được bảo lưu thời gian đóng BHXH.

Điều 61 quy định người lao động khi nghỉ việc mà chưa đủ điều kiện để hưởng lương hưu theo quy định hoặc chưa hưởng bảo hiểm xã hội một lần theo quy định thì được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội.

Điều 78 quy định người lao động dừng đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện mà chưa đủ điều kiện để hưởng lương hưu theo quy định hoặc chưa nhận bảo hiểm xã hội một lần thì được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội.

Việc bảo lưu thời gian tham gia BHXH không ảnh hưởng đến việc hưởng lương hưu của người lao động.

2. Nghỉ hưu trước tuổi trong trường hợp đủ điều kiện

Điều 219 Bộ luật Lao động 2019 quy định; người lao động được nghỉ hưu trước tuổi từ năm 2021 nếu thuộc một trong các trường hợp:

Không suy giảm khả năng lao động:

+ Đủ tuổi theo quy định tại khoản 3 Điều 169 Luật Lao động 2019 và đủ 15 năm làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành hoặc đủ 15 năm làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.

+ Người lao động có tuổi thấp hơn tối đa 10 tuổi so với tuổi nghỉ hưu của người lao động theo khoản 2 Điều 169 Luật Lao động 2019 và đủ 15 năm làm công việc khai thác than trong hầm lò.

+ Có tuổi thấp hơn tối đa 05 tuổi so với tuổi nghỉ hưu quy định tại khoản 2 Điều 169; trừ trường hợp Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam; Luật Công an nhân dân, Luật Quân nhân chuyên nghiệp; công nhân và viên chức quốc phòng có quy định khác.

+ Có tuổi thấp hơn tối đa 05 tuổi so với tuổi nghỉ hưu theo khoản 3 Điều 169 của Bộ luật Lao động và đủ 15 năm làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành hoặc đủ 15 năm làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.

Suy giảm khả năng lao động:

– Lao động nam đủ 55 tuổi 03 tháng, nữ đủ 50 tuổi 04 tháng; bị suy giảm khả năng lao động từ 61% đến dưới 81%.

– Lao động nam đủ 50 tuổi 03 tháng và nữ đủ 45 tuổi 04 tháng; bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên.

– Người lao động có đủ 15 năm trở lên làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; thuộc danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành và bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên.

– Lao động thuộc lực lượng vũ trang (sĩ quan, hạ sĩ quan, quân đội, công an…) có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên và bị suy giảm khả năng lao động từ trên 61% thì nam phải đủ 50 tuổi 03 tháng và nữ phải đủ 45 tuổi 04 tháng.

>> Xem Thêm: {2020} – Thành công group thâu tóm chứng khoán HVS.

Nguồn:Cafef

Tác giả: Hồng Phúc